Chùa Phật Tích – Dấu tích kiến trúc thời Lý

23/12/2015 20:26 Số lượt xem: 703
Chùa Phật Tích có tên tự là  “Vạn Phúc tự” tọa lạc trên núi Phật Tích, xưa thuộc Bắc Ninh tỉnh, Từ Sơn huyện, Thụ Phúc tổng, Phật Tích xã, nay thuộc thôn Phật Tích, xã Phật Tích huyện Tiên Du.
 
 
 
 
Chùa phật tích
 
Được khởi dựng vào thời Lý (1057) Phật Tích được biết đến như một Đại danh lam của đất nước. Đến thời Trần, chùa Phật Tích cũng được biết đến như một đại danh lam thắng cảnh, các vua Trần thường lui tới chùa thăm cảnh, lễ phật, dự hội và đề thờ.Vua Trần Nhân Tông đã cho xây dựng cung Bảo Hòa và một thiền viện lớn ở Phật Tích. Vua Trần Nghệ Tông đã cho tổ chức cuộc thi “Thái học sinh” tại chùa. Đến thời Lê Trung Hưng, chùa Phật Tích được quý tộc triều đình cho trùng tu với quy mô lớn theo kiểu chùa Trăm gian có kiến trúc kiểu “Nội công ngoại quốc”. Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng và hủy hoàn toàn kiến trúc của ngôi chùa, chỉ còn lại nền móng và  một số cổ vật như tượng phật Adi đà, 10 linh thú, bia đá, vượt tháp. Đến năm 1996, chùa được xây lại với quy mô nhỏ gồm các tòa như: Tam Bảo, Hậu đường, nhà tổ, nhà mẫu. Hiện nay chùa Phật Tích được nhà nước đầu tư cùng với kinh phí do nhân dân đóng góp tiến hành trùng tu gồm các tòa: Tam bảo, hậu đường, nhà khách, nhà tổ, nhà mẫu đặc biệt là phục dựng pho tượng phật Adi đà mới cao gần 30m đặt trên đỉnh núi Phật Tích.
 
 
 
Linh thú chùa phật tích
 
Hiện nay, chùa Phật Tích còn bảo lưu được nguyên nền móng của thời Lý với 4 lớp nền có quy mô to lớn, nhiều cổ vật, di vật thời lý như: gạch ngói, chân cột, bệ tảng, tượng phật A di đà, tượng đầu người mình chim, 10 linh thú… và một phần kiến trúc điêu khắc, di vật, cổ vật các thời Lê - Nguyễn như: vườn tháp, tượng cổ Chuyết công, tượng Tiên chúa Trịnh Thị Ngọc Am, tượng hậu, bia đá…
Dấu tích nền móng chùa Phật Tích từ thời Lý vẫn còn tới ngày nay. Ngôi chùa được xây dựng ở lưng chừng núi Phật Tích và được phân thành 4 cấp.
Cấp thứ nhất - cấp nền là khu vực cổng chùa có mặt bằng với chân núi, hai bên là hai ao được ví như hai “mắt rồng” và một “giếng rồng”
Cấp 2:  Có chiều dài 58m, cao 3,7m. Là nơi có tam quan cùng tòa gác chuông hai tầng 8 mái, truyền rằng xưa là vườn hoa mẫu đơn là nơi diễn ra hội “Hoa Mẫu đơn”cùng với câu truyện tình lãng mạn “Từ Thức gặp tiên”. Hiện tại cấp nền này là tòa gác chuông mới được phục dựng lại.
Cấp 3: Có chiều dài 58m, chiều rộng 62m, cao 5m, là khu vực nền chùa chính, là trung tâm thờ Phật của ngôi chùa và có các tòa như: tam bảo, hậu đường, hành lang, nhà tổ, nhà mẫu.
Cấp 4: là vườn tháp của chùa, hiện còn bảo lưu được 34 tháp (9 tháp được xây dựng bằng đá xanh, 25 tháp bằng gạch), các ngôi tháp phần lớn được dựng vào thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII - XIX). Chính giữa vườn tháp là ao rồng hình chữ nhật, đáy ao là một phiến đá lớn hình bán nguyệt chạm nổi hình rồng rất lớn, mặt cạnh phiến đá chạm hình sóng nước.
 
 
Bảo tháp chùa phật tích
 
Cùng với kiến trúc cổ kính của các thời kỳ lịch sử, ngôi chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ là chứng tích của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc:
Tượng phật Adiđà bằng đá xanh được tạc vào thời Lý hiện vẫn còn lưu giữ tại chùa, đó không chỉ là một báu vật của người dân địa phương mà còn là báu vật của cả nước ta. Theo sử sách để lại thì pho tượng được đúc bằng đá xanh, mình cao 6 trượng ngồi trong tháp cao 10 trượng trong tư thế ngồi thiền tĩnh tại trên tòa sen. Thân tượng cao 1,845 m có thân hình thon thả óng nuột và mềm mại bởi những đường cong và những nếp chảy của tấm áo cà sa khoác ngoài. Cổ kiêu 3 ngấn, nõn nà. Khuôn mặt đẹp thanh khiết với vầng trán đều đặn, với đôi mắt hiền từ, lông mày cong, miệng nhỏ thoảng nụ cười. Toàn bộ thân hình và khuôn mặt của pho tượng toát lên vẻ đẹp từ bi. Bệ tượng gồm tòa sen và bát giác. Tòa sen có chu vi 3,6m gồm 15 cánh mỗi cánh đều chạm nổi một đôi “rồng giun”. Toàn bộ bệ giác chạm nổi các hình rồng giỡn nhau, cúc dây, sen dây, dưới cùng của bệ giác chạm hình sóng nước cách điệu.
 
 
Tượng Phật A Di Đà
 
Tượng 10 linh thú bằng đá được tạo thành từng cặp đăng đối đứng chầu trước cửa Tam bảo bao gồm voi, sư tử, trâu, tê giác, ngựa. Chúng được tạo tác giống như thật. Những linh thú này đều có trong tích nhà Phật. Nó vừa mang ý nghĩa bảo vệ Phật pháp và sự quy y Phật pháp. Đó trước tiên là sự biểu dương sức mạnh của Phật pháp bằng tiếng của sư tử, đó là biểu trưng của sức mạnh. Kế tiếp là tượng voi được coi là sức mạnh tinh thần. Tiếp theo là tượng tê giác nằm áp sát bụng xuống bệ sen, miệng ngậm, chiếc sừng nhú trên mũi. Trong phật pháp tê giác được Đức phật ca ngợi như là  biểu tượng cho những người tu hành kiên trì cho đến ngày giải thoát. Ngựa cũng là biểu tượng cho năng lượng và sức lực trong việc hành pháp. Trong đạo phật để dạy người Phật tử cách điều  phục tâm của mình cho nên tâm được ví với con trâu hoang. Trâu có bản tính siêng năng, nhẫn nại không hung hăng nhưng vô trí. Trâu được tạc trong tư thế nằm thủ phục trên bệ tượng tạo cảm giác nghỉ ngơi, thư thái, mang ý nghĩa giải thoát tự nhiên, tư tại trong thế giới của phật.
Chân tảng bằng đá xanh hình vuông chạm dàn nhạc công: Có kích thước khối hộp vuông, mỗi cạnh 0,74 m. Mặt trên của chân tảng nổi hình tròn trang trí những cánh hoa sen cách điệu. Mặt bên của chân tảng chạm nổi hình một dàn nhạc công đang biểu diễn sinh động.
Chân tảng bằng đá xanh hình tròn: đường kính 0,58m, cao 0,28m xung quanh chạm nổi hình rồng chầu.
Tượng đầu người mình chim: Pho tượng cao chừng 0,4m. Tượng được tạo tác bằng đá, nửa trên là người với đôi tay đã được cách điệu thành đôi cánh mang đầy tính sáng tạo nghệ thuật. Tượng có khuôn mặt trầm tư, dịu dàng và rạng rỡ, mắt nhìn xuống, môi khép lại khẽ mỉm cười, mũi cao và thẳng, mái tóc được thắt bằng một dải có điểm hoa trang trí .
Trải qua những thăng trầm của lịch sử và thời gian, chùa xưa tháp cũ thời Lý không còn nữa nhưng những dấu tích quy mô, nền móng rộng lớn và những di vật, cổ vật thời Lý hiện vẫn còn khá nhiều như: Chân tháp, tượng phật Adiđà, tượng linh thú, tượng đầu người mình chim, chân tảng, chân cột, gạch ngói, con giống… đã khẳng định chùa Phật Tích là một đại danh lam thắng cảnh thời Lý và nay là điểm đến tham quan cho du khách trong và ngoài nước.
 
 

 

Nguyen Nhan Kieu
Nguồn: Báo Bắc Ninh